Thế giới động vật

Hổ ở Việt Nam được quan tâm như thế nào?

Theo Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hà và các đồng nghiệp từ Cục kiểm lâm, Cục bảo tồn Đa dạng Sinh học thì tại Việt Nam chưa có một nghiên cứu chính thức nào về loài hổ mà chỉ ước đoán có chừng 50 cá thể hổ trong tự nhiên.





Một cá thể hổ nuôi ở Bình Dương (Ảnh do TS Nguyễn Mạnh Hà cung cấp)
 

Do vậy, những thông tin hiện nay về hổ ngoài tự nhiên ở Việt Nam là rất mơ hồ, thậm chí bi thảm. Hình ảnh gần đây nhất ghi nhận về sự tồn tại của một con hổ còn sống trong tự nhiên chính là bức ảnh do bẫy ảnh chụp được tại Vườn quốc gia Pù Mát là năm 1998. Cũng vào năm này, một người dân ở Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền (Thừa Thiên Huế) bẫy được một “chú” hổ con, cá thể hổ này đã được kiểm lâm thu giữ và chuyển về nuôi tại Vườn thú Hà Nội, được đặt tên là Lâm Nhi. Sau đó Lâm Nhi vẫn sinh sống khỏe mạnh tại Vườn thú Hà Nội.

 

Do chưa có sự quan tâm đúng mức về loài hổ cho nên các hoạt động bảo tồn hổ ở Việt Nam thường rất mờ nhạt và hiện tại các hoạt đó cũng đang diễn ra hết sức manh mún, thiếu tính gắn kết, nằm rải rác trong các dự án, nghiên cứu riêng lẻ.
 

Hổ Pumat được nuôi ở Bình Dương. (Ảnh do TS Nguyễn Mạnh Hà cung cấp).

 

Theo tổ chức  WWF (Qũy Bảo tồn Thiên nhiên châu Á) có 3 phân loài hổ bị tuyệt chủng từ thập kỷ 40 và phần loài thứ 4, loài hổ phía Nam Trung Quốc 25 năm nay vẫn chưa ai nhìn thấy trong tự nhiên.

 

Ngày 10/2/2010 vừa qua, tổ chức WWF lần đầu tiên công bố thông tin về bản đồ tương tác 10 quốc gia và vùng lãnh thổ đang có những mối đe dọa nguy hiểm với loài hổ hoang dã…

 

Thông tin từ bản đồ tương tác, trên thế giới ước tính chỉ còn khoảng 3200 con hổ còn lại trong tự nhiên và chúng đang phải đối mặt với hiểm họa ngày càng tăng bao gồm mất chỗ sinh sống, bị săn bắt trái phép và biến đổi khí hậu.

Có thể  kể đến đầu những năm 90 của thế kỷ 20, có một số hoạt động bảo tồn hổ được triển khai, ví dụ năm 1992 Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường đã có các hoạt động tập huấn, tuyên truyền nâng cao năng lực cho các các hoạt động bảo tồn hổ ở Việt Nam với sự tài trợ của công ty ESSO. 

 

Năm 1994-1996, Cục kiểm Lâm triển khai một dự án nâng cao năng lực bảo tồn hổ ở Việt Nam, nhưng vẫn tập trung chủ yếu cho khu vực Quảng Nam và Tây Nguyên. Năm 1999 - 2000 Quỹ Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF) cũng có một dự án bảo tồn hổ ở Tây Nguyên và Trung Trường Sơn. Năm 2006, WWF mở rộng các hoạt động bảo tồn hổ ra khu vực Thừa Thiên Huế, Quảng Trị và Quảng Nam. Nhưng đó cũng chỉ là các hoạt động bảo tồn hổ mang tính chất nhỏ lẻ, lồng gép trong các dự ánh bảo tồn đa dạng sinh học chứ không phải các dứ án riêng cho loài hổ.

 

Để có bản báo cáo đánh giá tổng thể đầu tiên và hoàn thiện nhất về quần thể hổ ở Việt Nam, TS. Nguyễn Mạnh Hà và các đồng nghiệp từ Cục kiểm lâm, Cục bảo tồn Đa dạng Sinh học, WWF và WCS đã thu thập và tổng hợp từ các dữ liệu ít ỏi, rải rác từ các chuyến nghiên cứu dài ngày tại các tỉnh: Bình Phước, Tây Nguyên, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Quảng Trị.

 

Dựa trên các dấu hiệu nghi vấn về loài hổ, nhóm của TS.Nguyễn Mạnh Hà đã đưa ra bản báo cáo, ước tính trong các cánh rừng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, dải Trường Sơn chỉ còn khoảng 50 con hổ, tức là chỉ còn ít hơn 20% số cá thể ước tính trong những năm 90 của thế kỷ trước. 

 

Tiến sĩ Hà cho biết, theo kế hoạch vào khoảng tháng 9 năm nay Hội nghị Thượng đỉnh quốc tế đầu tiên về bảo tồn hổ sẽ được tổ chức tại Vladivostok, Liên Bang Nga, tại hội nghị này, nguyên thủ các quốc gia có hổ sẽ đưa ra công bố cam kết về các hoạt động bảo tồn loài hổ ở nước mình. Hội nghị thượng đỉnh này có thể là điểm mốc quan trọng cho tương lai và sự tồn tại lâu dài của loài hổ trên thế giới.

 

Cũng theo tiến sĩ Hà, cơ hội bảo tồn hổ có trở thành cứu cánh cho hổ Đông Dương hay không, còn phụ thuộc vào sự nhạy cảm của các cơ quan chức năng và tâm huyết của các nhà sinh học. Trong báo cáo quốc gia về bảo tồn hổ đề xuất mục tiêu các hoạt động bảo tồn hổ ở Việt Nam, bao gồm việc phục hồi quẩn thể hổ ở các khu vực bảo tồn ưu tiên và các khu bảo tồn quan trọng; quản lý được hoạt động nuôi sinh sarn theo hướng hỗ trợ các hoạt động bảo tồn hổ ngoài tự nhiên; quản lý hiệu quả hoạt động buôn bán bất hợp động vật hoang dã và buôn bán hổ ở Việt Nam…
 

TS Nguyễn Mạnh Hà cùng cộng sự trong một chuyến truy tìm loài hổ

 

Để chuẩn bị cho các hoạt động bảo tồn hổ trong thời gian tới, Việt Nam đã và đang có các hoạt động thiết thực nhằm ngăn ngừa nạn buôn bán, sử dụng chế phẩm từ hổ như tổ chức tổ chức các hoạt động tập hợp lực lượng truyền thông, và nhiều người hy vọng năm Canh Dần sẽ là năm đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công cuộc bảo tồn loài hổ trong tự nhiên.

 

Thượng tá Lê Khả Hồng, Phó trưởng phòng 2 Cục cảnh sát môi trường cho biết, Hà Nội là một trong những địa bàn buôn bán hổ lớn. Lực lượng cảnh sát môi trường phối hợp với công an, chính quyền bắt quả tang những vụ mua bán hổ sống tại ngay tập thể Thanh Xuân Bắc, tại Hà Đông; mua bán xương hổ tại Đống Đa. Thậm chí còn bắt quả tang những vụ vận chuyển, tàng trữ hổ đông lạnh.

 

Bàn về việc nhiều người có thói quen sử dụng sản phẩm từ hổ, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hà cho rằng, cao hổ tốt hay không đối với sức khỏe con người vẫn là điều còn tranh cãi, vì chưa có các nghiên cứu khoa học nào chứng minh được tác dụng thực sự của cao hổ đối với sức khỏe con người. Hơn thế, việc thẩm định mức độ thật, giả và chất lượng cao hổ là điều không thể, bởi các AND của hổ đã bị hòa tan vào các AND của rất nhiều thành phần khác có trong cao qua quá trình nấu. Hơn thế, giá một lạng cao hổ dù có lên tới 20 triệu đồng, cũng còn thấp xa so với giá thành mua xương hổ. “Nếu người tiêu dùng tỉnh táo họ sẽ cân nhắc và suy nghĩ về tính logic khi mua một loại thuốc không rõ chất lượng với giá thấp hơn giá thành sản xuất ra chúng”, tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hà nói.

 

 

 Dantri